This Content Is Only For Subscribers
Theo truyền tích, chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang cũ) có từ thời Lý (thế kỷ XI), được mở mang xây dựng lớn vào thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII).
Chùa có tên là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm tự, gọi tắt là chùa Bổ Đà.
Tương truyền, xưa có cặp vợ chồng tiều phu nghèo hiếm muộn con cái nên được Quan Thế Âm thương tình cứu giúp. Một ngày, người chồng đốn gốc thông già trên đỉnh núi thì bật ra 32 đồng tiền vàng, hỏi cao tăng thì mới biết đó là phép ứng hiện của Quan Âm bồ tát. Người tiều phu cầu khẩn rằng nếu sinh được con trai thì sẽ dựng chùa thờ. Điều ước được linh ứng, tiều phu bèn dựng chùa thờ Phật. Người dân trong vùng tìm về cầu linh hiển ứng nên gọi là chùa Quan Âm hay chùa ông Bổ.

Tuy nhiên, theo một số nhà nghiên cứu, Hương Tích-Hương Sơn là một đạo tràng Quán Thế Âm lớn nhất ở nước ta. Tại chùa Bổ Đà có câu thành ngữ: “Bắc Bổ Đà, Nam Hương Tích”, có nghĩa là ở phía Bắc có chùa Bổ Đà, phía Nam có chùa Hương Tích (Hà Tĩnh và Hà Nội). Đây là hai đạo tràng Quán Thế Âm vào hạng nhất, đăng đối theo trục Bắc-Nam, lấy Thăng Long là trung tâm. Bổ Đà là tên viết tắt của Bổ Đà Lạc Già đọc trại từ tiếng Phạn “Potalaka”, có nghĩa là ngọn núi nơi Bồ Tát Quán Thế Âm hóa hiện để cứu độ chúng sinh.
Chùa Bổ Đà vừa là nơi thờ Phật, vừa là nơi đào luyện tăng, ni của Thiền phái Lâm Tế qua nhiều thế kỷ. Chùa Bổ Đà gồm các đơn nguyên kiến trúc: Chùa Cao, am Tam Đức, chùa Tứ Ân, vườn Tháp và Ao Miếu.

Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ. Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, đó là lối kiến trúc “nội thông ngoại bế”, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc.
Chùa Tứ Ân trong Khu Di tích chùa Bổ Đà được thiết kế theo lối kiến trúc đặc biệt kiểu “nội thông ngoại bế” với 16 khối kiến trúc liên hoàn lối thông nhau tạo thành hệ thống các tòa ngang dãy dọc, tạo vẻ u tịch, thanh vắng và huyền thoại. Xung quanh chùa được trình tường đất cao từ 2 đến 3m. Đây là nét kiến trúc độc đáo, đặc sắc không chỉ riêng trong tỉnh Bắc Giang mà các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam cũng rất hiếm thấy.
Sự độc đáo, khác biệt trong lịch sử, kiến trúc nghệ thuật chùa Bổ Đà còn thể hiện qua sự bài trí tượng thờ: Nếu chùa Cao chỉ thờ tượng Quan Âm Tống Tử thì trong chùa Tứ Ân lại bài trí cả một hệ thống tượng thờ gồm tượng Phật, tượng Khổng Tử, Lão Tử và Thạch linh thần tướng cho thấy sự dung hợp tam giáo (tam giáo đồng nguyên) với tín ngưỡng dân gian bản địa.
Nói đến chùa Bổ Đà không thể không nhắc tới khu Vườn Tháp-một trong vườn tháp lớn nhất ở Việt Nam. Với gần 100 tháp lớn nhỏ được xây dựng dưới thời Lê (thế kỷ XVII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX) chứa xá lị, tro cốt của 1214 tăng, ni tu hành đắc đạo thuộc dòng thiền Lâm Tế.

Chùa Bổ Đà không chỉ là nơi tu hành của các tăng ni mà còn là nơi mở trường đào tạo các tăng đồ theo Thiền phái Lâm Tế trải suốt hơn 300 năm. Để phục vụ cho việc đào tạo tăng đồ, nhà chùa cho san khắc nhiều mộc bản.
Hiện nay, chùa Bổ Đà đang bảo lưu 1.935 mộc bản. Mộc bản có niên đại sớm nhất được san khắc vào năm 1744 và muộn nhất vào năm 1930. Các mộc bản được khắc bằng gỗ thị, khắc nổi chữ Hán, và chữ Nôm, nét chữ tinh xảo.
Trải qua nhiều thế kỷ, mộc bản hiện nay vẫn còn khá nguyên vẹn, thể hiện tư tưởng của dòng thiền Lâm tế. Đây là kho di sản tư liệu quý không chỉ về lịch sử Phật giáo mà còn có giá trị nghiên cứu trên nhiều phương diện: lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, văn học, mỹ thuật, y học…

Với các giá trị tiêu biểu về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, năm 1992, chùa Bổ Đà được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích cấp quốc gia; năm 2016, chùa Bổ Đà được công nhận Di tích quốc gia đặc biệt. Đây là sự tôn vinh, ghi nhận giá trị tiêu biểu độc đáo của di tích, cũng như những nỗ lực trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang.
Nằm tựa núi, nhìn ra sông Cầu, chùa Bổ Đà – tên chính xác là Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, còn gọi chùa Quán Âm hay Tứ Ân tự – hiện lên như một dấu lặng cổ kính giữa miền Kinh Bắc. Không ồn ào, không phô trương, chùa Bổ Đà mang vẻ đẹp thâm trầm của trung tâm Phật giáo lớn thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử xưa.
Độc đáo thay, nơi đây vẫn giữ nguyên vẹn kiến trúc Việt cổ: gần trăm gian chùa liên hoàn, tường đất nện, cổng trình tường, gạch ngói dân gian mộc mạc mà bền bỉ với thời gian.
Sơn thủy giao hòa, huyền thoại thấm không gian, chùa Bổ Đà không chỉ là chốn thờ tự Tam giáo, Trúc Lâm Tam Tổ, Quán Thế Âm Bồ Tát, mà còn là nơi để lòng người lắng xuống, chạm vào chiều sâu văn hóa và tâm linh Việt.
Đến thăm chùa, du khách không chỉ được vãn cảnh đẹp, được hoà vào với thiên nhiên thơ mộng, huyền bí mà còn có thể nghiên cứu, tìm hiểu về những giá trị lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật, tôn giáo thông qua tài liệu, hệ thống tượng phật, câu đối, đại tự, sách kinh phật, các bộ hương án, đồ thờ… có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá hiếm thấy ở những ngôi chùa khác. (BTV)


