Tu tập từ bi sẽ phát sinh trí tuệ
Có thể nói một định nghĩa hết sức đơn giản nhưng có giá trị văn hóa phổ quát cao về Phật giáo: Đạo Phật là đạo từ bi.
Đương nhiên có người sẽ nói đạo Phật là đạo trí tuệ; đạo Phật là đạo giải thoát; đạo Phật là đạo giác ngộ; đạo Phật là đạo tỉnh thức…
Tất cả những khái niệm trên đều không sai, đều hay, đều có ý nghĩa. Nhưng nếu xét ở góc độ văn hóa phổ quát thì số đông sẽ hiểu và thích cách nói đạo Phật là đạo từ bi cứu giúp chúng sinh hơn.
Từ kinh (慈經, pi. mettā-sutta), nghĩa là kinh Từ bi, là một bài kinh văn hệ Pali, giúp Phật tử phát khởi, nuôi dưỡng lòng từ bi mà các chùa Nam tông thường tụng hàng ngày.
Từ bi dịch từ chữ Karunâ trong tiếng Pali.
Từ là lành, hiền, yêu thương
Bi là xót thương, đau xót, thương xót
Tiếng Hán, Từ (慈) là một phẩm chất quan trọng của trái tim (tâm người) diễn tả thái độ lành, hiền từ mang lại hạnh phúc và an lạc cho người khác.
Bi (悲) cũng là một phẩm chất của trái tim (tâm con người) diễn tả thái độ đau thương, đau buồn trước những nỗi thống khổ của người khác.
Trong các sách tiếng Anh chữ Karunâ được dịch là compassion. Trong từ compassion, có chữ passion, chữ này có gốc từ chữ patior, một động từ trong tiếng La tinh có nghĩa là chịu đựng hay trải qua khổ đau, đau đớn.
Nhiều người tỏ ra băn khoăn tranh cãi khi nghe Thiền sư Nhất Hạnh bảo: “Từ bi là động từ”
Xét ở góc độ từ loại đơn thuần thì “Từ bi” vừa là tính từ (còn gọi là phụ danh từ) vừa là danh từ, không phải là động từ
Còn Thiền sư Nhất Hạnh nói từ bi là động từ kiểu thiền ngữ, Phật ngữ, nhấn mạnh đến việc thực tập, thực thi, hành động thực tế của ý nghĩa “từ bi_ chứ không chỉ nói lý thuyết, khẩu thuyết từ bi suông.
Cho nên nếu hiểu được cách dùng thiền ngữ của Thiền sư vượt qua khỏi quy ước từ loại, ngũ nghĩa đơn thuần thì sẽ không tranh cãi. Cách này cũng được các Thiền sư tiền bối trong các ngữ lục cổ như Bích Nham lục, Lâm Tế lục, Thượng sĩ ngữ lục.
Từ bi – Con đường hóa giải khổ đau

Nghĩa rộng của chữ từ bi thương yêu cứu vớt chúng sanh được triển khai trong các kinh Đại thừa:
Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc.
Bi năng bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ.
Hoặc nói đơn giản: Từ năng dữ lạc, bi viết độ sanh Sáng cho người niềm vui, chiều giúp người bớt khổ là từ bi.
Từ là ban vui, bi là cứu khổ
Từ là mang lại tất cả niềm vui cho chúng sanh; bi là làm cho mọi nỗi khổ niềm đau của chúng sanh tan biến.
Từ là ban vui, bi là độ sanh.
Tâm từ bi là tâm Phật
Hạnh từ bi là hạnh Phật
Trí tuệ là một từ quan trọng bậc nhất của Phật giáo.
Trí tuệ là sự nghiệp
Trí tuệ là giải thoát
Trí tuệ là thông đạt chân lý
Nói đơn giản người có trí tuệ là người biết sống thuận theo chân lý. Chân lý thì không hình, không tướng mà căn cơ chúng sanh thấp kém nên khó tin khó hiểu vì thế Phật lập vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh tu tập đúng theo chân lý để đạt được sự an vui và giải thoát, giác ngộ.
Phẩm Thí dụ thứ ba của kinh Pháp Hoa, một bộ kinh trọng yếu của Phật giáo Đại thừa Tam giới như là nhà lửa, chúng sanh là những đứa con của ngài trưởng giả tức chỉ Đức Phật. Do mãi vui chơi không biết sự nguy hiểm của nhà lửa như thế nào để cứu các con ngài Trưởng giả đã dụ rằng các con mà ra khỏi đây ta sẽ cho các con xe dê, xe hươu, xe trâu tốt đẹp để thoải mái chơi đùa. Khi các đứa con của mình vượt thoát khỏi đó xong, Ngài cho các con chiếc xe trâu trắng hoành tráng, tốt đẹp, trang nghiêm hơn nhiều so với xe dê, xe hươu, xe trâu mà Ngài đã nói. Do vô minh và vọng kiến ngăn che nên chúng sanh cứ đắm chìm trong nỗi khổ vô cùng của nhà lửa tam giới.
Đức Phật là bậc lưỡng túc tôn, phước trí nhị nghiêm; bi trí viên mãn.
Trí viên mãn, bi viên mãn mới thành Phật được. Thiếu một trong hai không thể gọi là Phật được.
Người đệ tử Phật dù xuất gia hay tại gia nên lấy việc nâng cao trí tuệ và từ bi làm chính.
Nói cách khác tu tập đúng theo Phật phải lấy từ bi làm lẽ sống, lấy trí tuệ làm sự nghiệp.
Cũng có thể nói từ bi và trí tuệ là tiêu chuẩn bất biến về giá trị con người.
Phẩm chất trí tuệ và từ bi cũng là tiêu chí, là điều kiện biểu hiện ra mười cảnh giới Tứ thánh (Phật, Bồ Tát, Duyên giác, Thanh văn); Lục phàm (Trời, người, Atula, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục).
Cảnh giới cao thượng nhất trí tuệ từ bi trọn vẹn viên mãn là cảnh giới Phật.
Cảnh giới thấp kém nhất hoàn toàn không có trí tuệ và từ bi chính là cảnh khổ đau bất tận của chúng sanh bị đoạ nơi địa ngục.
Trong nhân loại, những người có trí tuệ và từ bi lớn, thường biết tu tập phát triển từ bi trí tuệ là bậc thượng nhân đáng kính.
Khái niệm “lương tâm” của ông bà ta là phẩm chất của tâm từ bi.
Từ bi và trí tuệ có mối quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời, là mối quan hệ tương tức. Từ bi là biểu hiện của trí tuệ; trí tuệ nguồn gốc của từ bi, soi sáng từ bi.
Có trí tuệ sẽ phát triển từ bi; tu tập từ bi sẽ phát sinh trí tuệ.
Hàng ngày dành thời gian học Phật, đọc kinh, ngồi thiền, nghe pháp, chánh niệm sẽ tăng trí tuệ.
Tập sống chánh niệm tỉnh giác, niệm Phật Quan Âm, lạy Phật, hộ trì Tam Bảo, quán từ bi, cư xử tử tế, làm thiện giúp người, phóng sanh, trồng cây, bảo vệ môi trường…sẽ giúp nuôi lớn tâm từ bi.
Người tu hành chọn pháp từ bi tu đến trọn vẹn viên mãn cũng sẽ đạt đến giác ngộ giải thoát.
Bồ tát Quán Thế Âm trong đạo Phật Đại thừa là hiện thân, là biểu tượng của từ bi, luôn lắng nghe những tiếng kêu cứu khổ đau của chúng sanh, con người mà tận tâm cứu giúp.
Một trong những định hướng chân chính cho người học Phật dù là xuất gia hay cư sĩ Phật tử tại gia là lấy từ bi làm lẽ sống, lấy trí tuệ làm sự nghiệp.
Ba đời mười phương chư Phật lấy từ bi làm thể, chư Phật Bồ Tát phát đại nguyện, thị hiện trong sáu nẻo luân hồi, qua lại trong nhân gian chính là để thực thi hạnh từ bi cứu giúp muôn loài chúng sanh, ngoài ra không còn bất kỳ mục đích nào khác.
Đức Phật dạy
Lẽ từ bi


